Được viết dưới dạng hồi ký, cuốn sách Hồ sơ mật Lầu Năm Góc và hồi ức về chiến tranh Việt Nam (Sách tham khảo) của Daniel Ellsberg đã cho ta cái nhìn đầy đủ hơn với những góc khuất của cuộc chiến tranh mà người Mỹ tiến hành ở...

Bạn đang xem: Tài liệu mật về việt nam


Năm 1971, Daniel Ellsberg trở thành người khiến "cả nước Mỹ kinh hoàng" và bị giới cầm quyền Mỹ lúc ấy xem là "người nguy hiểm nhất nước Mỹ" khi ông công bố 7.000 trang tài liệu thuộc loại tối mật của Lầu Năm Góc phơi bày toàn bộ sự thật về cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Việc làm này của ông đã góp phần làm thay đổi chủ trương của Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam trong những năm về sau.

Được viết dưới dạng hồi ký, cuốn sách Hồ sơ mật Lầu Năm Góc và hồi ức về chiến tranh Việt Nam (Sách tham khảo) của Daniel Ellsberg đã cho ta cái nhìn đầy đủ hơn với những góc khuất của cuộc chiến tranh mà người Mỹ tiến hành ở Việt Nam. Từ nguồn tài liệu cấp 1, với thái độ trung thực, nhãn quan chính trị nhạy bén và kỹ năng phân tích sắc sảo, Daniel Ellsberg đã dựng lại bức tranh sống động về đời sống nước Mỹ kể từ năm 1964, động thái (gồm cả trung thực và dối trá) của các hoạt động tại Nhà Trắng và những con người trong đó, sự thiệt hại, mức độ tàn bạo và xu thế thất bại không tránh khỏi của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nó là một khoảng trống chưa được lấp kín trong bản đồ nghiên cứu của chúng ta về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Cuốn sách chia làm 4 phần với 32 chương, lối viết mạch lạc, thể hiện một khả năng quan sát tinh tế, một kỹ năng phân tích sắc sảo và những kiến giải rất đáng nể. “Trong nhiều năm tôi đã chứng kiến Tổng thống có thể nói dối hiệu quả ra sao về các chính sách của mình với giả định an toàn là những lời nói dối đó không bị vạch trần. Giả định đó dựa vào lòng trung thành của các thuộc cấp với ông ấy, với sếp của họ, với “sinh mệnh chính trị” của họ, và dựa vào sức mạnh của những lời hứa, lời tuyên thệ giữ bí mật của họ, dù thứ phải che đậy có là gì và tác động hiển nhiên của việc che đậy có là thế nào” (tr.294).

Hay một đoạn mô tả: “Cửa vừa mới đóng sau lưng chúng tôi thì một tiếng “bùm” khác ở ngay bên ngoài và tường nhà rung chuyển. Chiếc đèn Coleman rung lắc dữ dội trên giá, bóng của nó xoay tròn. Một mặt của tấm bảng treo bản đồ rời ra và rơi xuống bàn. Cà phê trong cốc sắt tây đổ lênh láng ra bàn. Chúng tôi loạng choạng ngã vào nhau khi túp lều rung chuyển…” (tr.210-211). Hoặc sau một tháng đặt chân đến Việt Nam, D. Ellsberg viết cho bạn bè với nhận xét rất riêng: “Tôi đã phải lòng trẻ em Việt Nam. Tôi chưa từng thấy nơi nào trên thế giới mà trẻ em vui vẻ, thân thiện và ngộ nghĩnh đến thế. Chúng khiến tôi nhớ về thời thơ ấu của mình” (tr.153).

Là một sĩ quan quân đội Mỹ, hẳn nhiên trong cuốn hồi ký của Daniel Ellsberg sẽ có những nhận định, kết luận mang tính chủ quan, phiến diện, không phù hợp với quan điểm của chúng ta. Song để bạn đọc tiện theo dõi, có thể tiếp cận gần nhất với tác phẩm, Nhà xuất bản cố gắng bám sát bản gốc trong quá trình dịch và biên tập cuốn sách.

Cuốn sách xuất bản năm 2002 tại Mỹ và từng được xuất bản tại Việt Nam năm 2006. Đây cũng là một cuốn sách gây chấn động dư luận nước Mỹ và trở thành cuốn sách bán chạy nhất khi được xuất bản năm 2002.

TP - Sau khi được công bố, Hồ sơ Lầu Năm Góc, tài liệu lịch sử của Bộ Quốc phòng Mỹ, về sự can dự chính trị-quân sự của Mỹ ở Việt Nam từ năm 1945 đến 1967, niềm tin của công chúng Mỹ đối với chính phủ đã vĩnh viễn giảm sút.

Tại cuộc họp báo trên truyền hình vào mùa xuân năm 1965, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. Mc
Namara tuyên bố, Mỹ vừa gửi những chiến binh đầu tiên đến miền Nam Việt Nam, sẽ bào mòn lực lượng Việt Cộng đang trong thế kẹt. “Trong bốn năm rưỡi qua, Việt Cộng, những người Cộng sản, đã mất 89.000 người. Các bạn có thể thấy sự tổn thất nặng nề”, ông nói. Đó là một lời nói dối.

Từ các báo cáo mật, Bộ trưởng Mc
Namara biết tình hình “tồi tệ và xấu đi” ở miền Nam Việt Nam. Những lời nói dối như của ông Mc
Namara là quy luật, không phải là ngoại lệ, trong suốt quá trình Mỹ tham gia Chiến tranh Việt Nam.

Bộ trưởng Mc
Namara biết rằng, ngay cả khi có gần 500.000 quân Mỹ tham gia, cuộc chiến vẫn đi vào bế tắc. Ông đã thành lập một nhóm nghiên cứu để tổng hợp và phân tích việc ra quyết định của Bộ Quốc phòng Mỹ từ năm 1945.

Là Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời hai Tổng thống John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson, ông Mc
Namara là kiến ​​trúc sư của cuộc chiến và liên quan đến những lời nói dối. Quy mô những lời nói dối được tiết lộ là vô cùng lớn, và đối với phần lớn công chúng Mỹ, sự lừa dối này đã gieo rắc mối nghi ngờ về chính phủ Mỹ.

Hồ sơ Lầu Năm Góc gồm 47 tập, bao gồm các văn bản hành chính của Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson.

7.000 trang hồ sơ đã ghi lại làm thế nào mà Mỹ lại sa lầy vào một cuộc chiến kéo dài, tốn kém tại một quốc gia Đông Nam Á nhỏ bé. Đó là một hồ sơ thiết yếu về cuộc chiến đầu tiên mà Mỹ để thua. Đối với các nhà sử học hiện đại, nó báo trước những tư duy và tính toán sai lầm đã khiến Mỹ sa lầy vào các cuộc chiến bất tận ở Iraq và Afghanistan.

*

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Mc

Lỗi ban đầu là quyết định ủng hộ sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam. Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đã trợ cấp nỗ lực giành lại các thuộc địa Đông Dương của họ. Rồi trong Chiến tranh Lạnh, Washington lại coi nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh như bình phong cho chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô.

Các sĩ quan tình báo Mỹ tại hiện trường nói thực tế không phải vậy; họ không tìm thấy bằng chứng nào về âm mưu của Liên Xô nhằm kiểm soát Việt Nam. Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower cho rằng, việc đánh bại Cộng sản Việt Nam là điều cần thiết “để ngăn chặn sự bành trướng hơn nữa của Cộng sản ở châu Á”; nếu Việt Nam trở thành nước Cộng sản thì các nước Đông Nam Á sẽ sụp đổ như quân cờ domino. Mỹ tiếp tục cuộc chiến, ủng hộ hết mình cho ông Ngô Đình Diệm - nhà lãnh đạo chuyên quyền của miền Nam Việt Nam chống Cộng sản.

Rồi đến lúc Tổng thống Kennedy phải giải quyết vấn đề đã được dự đoán từ lâu. Sau khi đối mặt Liên Xô trong cuộc khủng hoảng Berlin, Tổng thống Kennedy muốn tránh bất kỳ dấu hiệu mệt mỏi nào của Chiến tranh Lạnh và dễ dàng chấp nhận lời khuyên của ông Mc
Namara nhằm làm sâu sắc hơn cam kết của Mỹ đối với Sài Gòn.

Bộ trưởng Quốc phòng viết trong một báo cáo:“Việc mất miền Nam Việt Nam sẽ khiến bất kỳ cuộc thảo luận nào về tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với thế giới tự do trở nên vô nghĩa”. Tổng thống Kennedy đã tăng số cố vấn quân sự Mỹ lên gấp 10 lần và đưa ra các nhiệm vụ trực thăng.

Để đổi lại sự ủng hộ, Tổng thống Kennedy muốn ông Diệm thực hiện các cải cách dân chủ, nhưng ông này từ chối. Sau đó xuất hiện cuộc nổi dậy quy mô lớn ở miền Nam Việt Nam, do các tu sĩ Phật giáo lãnh đạo. Lo sợ bị mất quyền lực, các tướng lĩnh Nam Việt Nam bí mật nhận được sự chấp thuận của Mỹ để lật đổ ông Diệm.

Cuộc đảo chính kết thúc với việc ông Diệm bị giết và sự can dự sâu hơn của người Mỹ vào cuộc chiến. Ba tuần sau, Tổng thống Kennedy bị ám sát, và vấn đề Việt Nam rơi vào tay Tổng thống Johnson. Ông đã cho các quan chức bí mật soạn thảo một nghị quyết để Quốc hội Mỹ trao cho ông quyền tham chiến ở Việt Nam mà không chính thức tuyên chiến.


*

Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Robert Mc

Tướng William C. Westmoreland, người đứng đầu lực lượng Mỹ tại Việt Nam, đã chỉ huy quân đội miền Nam Việt Nam trong khi họ tổ chức các cuộc đột kích bí mật vào các đảo ở miền Bắc Việt Nam. Theo một báo cáo, tàu thuyền của miền Bắc Việt Nam đã chống trả và “nhầm tàu ​​Maddox với tàu hộ tống của miền Nam Việt Nam”.

Làm chứng trước Thượng viện, Bộ trưởng Mc
Namara nói dối, phủ nhận bất kỳ sự can dự nào của Mỹ trong các cuộc tấn công Vịnh Bắc Bộ. “Hải quân của chúng tôi hoàn toàn không tham gia, không liên quan, không biết về bất kỳ hành động nào của phía Nam Việt Nam, nếu có”, ông nói.

Ba ngày sau khi công bố “vụ tấn công” trên Vịnh Bắc Bộ, chính quyền Mỹ thuyết phục Quốc hội thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ phê chuẩn và ủng hộ “quyết tâm của Tổng thống, với tư cách là Tổng tư lệnh, thực hiện mọi biện pháp cần thiết để đẩy lùi bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào chống lại lực lượng của Mỹ và để ngăn chặn sự gây hấn hơn nữa”.

Bảy tháng sau khi giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử năm 1964, Tổng thống Johnson gửi quân tham chiến tới Việt Nam mà không tuyên chiến - một quyết định được bao phủ trong những lời dối trá.

Việc triển khai ban đầu 20.000 quân được mô tả là “lực lượng hỗ trợ quân sự” theo “sự thay đổi nhiệm vụ” để “cho phép sử dụng tích cực hơn” ở Việt Nam. Không có gì mới. Như Hồ sơ Lầu Năm Góc sau đó cho thấy, Bộ Quốc phòng Mỹ cũng sửa đổi mục tiêu chiến tranh của mình: “70% để tránh thất bại nhục nhã của Mỹ, 20% để giữ lãnh thổ Nam Việt Nam (và sau đó là lãnh thổ liền kề) khỏi tay Trung Quốc, 10% để cho phép người dân miền Nam Việt Nam tận hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn, tự do hơn”.

Cuối cùng, hoàn toàn vỡ mộng, Bộ trưởng Mc
Namara lập luận với tổng thống trong một bản ghi nhớ năm 1967 rằng, đổ nhiều quân hơn, ném bom nhiều hơn cũng không thể thắng được cuộc chiến.

Ông đề nghị Mỹ tuyên bố chiến thắng và từ từ rút quân. Và trong một lần hiếm hoi thừa nhận về những đau khổ mà người dân Việt Nam phải chịu đựng vì chiến tranh, ông viết: “Bức tranh về siêu cường vĩ đại nhất thế giới mỗi tuần giết chết hoặc làm bị thương nặng 1.000 người không tham chiến, trong khi cố gắng buộc một quốc gia lạc hậu nhỏ bé phải phục tùng về một vấn đề mà sự xứng đáng của vấn đề đang gây tranh cãi kịch liệt, không phải là một bức tranh đẹp”.

“Thời gian quả là dài nhưng giúp con người ta nguôi đi những dằn vặt về những việc đã làm. Điều làm tôi thực sự cảm động là tôi không hề thấy sự thù hận nào trong ánh mắt của người Việt Nam đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình, dẫu chưa phồn vinh nhưng quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không phải tranh cãi”.

Xem thêm: Làm Thế Nào Để Sửa Tóc Xoăn Bị Hỏng, Chăm Sóc Tóc Uốn Bị Hỏng Tại Nhà

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Mc

Năm 1968, Tổng thống Johnson tuyên bố sẽ không tái tranh cử; Việt Nam đã trở thành Waterloo của ông ấy. Ông Nixon trở thành ông chủ Nhà Trắng với lời hứa mang lại hòa bình cho Việt Nam. Nhưng thay vào đó, ông mở rộng cuộc chiến bằng cách xâm lược Campuchia.